Trang trước Trang sau
Nước Lạc Việt Ở Thế Giới Mới > Chương 55: Kỵ Binh
LIKE ủng hộ Hixx
   
 

Nước Lạc Việt Ở Thế Giới Mới

Chương 55: Kỵ Binh

 
 
Thời gian quá gấp gáp, súng Gan Ga 1795 làm ra mỗi ngày đều đưa thẳng đến doanh trại của tân quân.

 

Quang Toản cho tân quân Lạc Việt dần thay đổi súng mới để họ luyện tập,những súng cũ lại đem đến cho Vũ Văn Dũng, súng mới quá nặng nề, khiếncho việc cầm tay chiến đấu lâu dài trở thành một hạn chế lớn khi trangbị cho bộ binh, Quang Toản nghĩ đến việc dùng đến voi, và ngựa làm đặtgiá súng, nhưng ngựa không phải binh lính nào cũng có thể cưỡi được,Quang Toản vừa lấy 500 kỵ binh từ Lý Văn Bưu nhập vào Lạc Việt quân, sai Phan Thuận cho lắp trên mỗi yên ngựa một giá súng giúp kỵ binh thựchiện xạ kích ngay trên lưng ngựa.

 

Nhưng giá súng trên lưng ngựa chỉ có thể giúp kỵ binh treo vũ khí chứkhông giúp họ vừa xạ kích vừa chạy, đầu tiên là do kỹ năng của ngườingồi trên ngựa còn hạn chế, việc hai tay buông dây cương lúc ngựa đangphi nước kiệu không phải ai cũng làm được, sau lại do mức độ chính xáckhông cao khi khai hỏa trong tư thế ấy. Quang Toản đành để họ tập luyệnchiến đấu theo lối du kích kỵ, chia ra từng tiểu đội kỵ binh, bắn sau đó chạy chuyển vị trí rồi lại bắn, nhóm này yểm trợ nhóm kia, lúc chạy màbị đối phương đuổi theo thì dùng lựu đạn để ném. Tiểu đoàn trưởng chỉhuy kỵ binh tên là Vũ Văn Thành tỏ ra rất thích thú với kiểu chiến đấumới này, trong khi có một số người tự hỏi trong lòng, ‘cách này có phảirất bỉ ổi không?’

 

Lại nói tân quân Lạc Việt, hiện tại có tất cả 2500 người được chia ralàm năm tiểu đoàn, trước đây lúc mới thành lập, Trần Quách Tĩnh là tiểuđoàn trưởng tiểu đoàn 101 và Dương Thiếc là tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn103, sau khi hai người này đi nhận chức mới Phan Văn Lân liền đem ĐỗQuốc từ tiểu đoàn 104 sang làm tiểu đoàn trưởng 101, Hữu Nam vẫn là tiểu đoàn trưởng 102, Lê Văn An, một chiến sỹ có thành tích huấn luyện giỏicủa tân quân được cất nhắc làm tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 103, ở tiểuđoàn 104, Quang Toản đem Trần Danh Tuấn vào thử thách ở đây, y trước làtay kiếm giỏi, lúc theo sứ đoàn sang Tây, dùng kiếm của mình đánh bạicác tay kiếm Châu Âu giúp dương danh Đại Việt ra bên ngoài, được TrầnVăn Kỷ đặc biệt thưởng thức, ra sức tiến cử, thật ra Trần Danh Tuấntrước khi thành danh vốn là thân binh của Trần Quang Diệu rồi.

 

Quang Toản bằng nhiều lý do, lấy đi của Trần Quang Diệu gần hết binhquyền, từ hai vạn người xuống còn chưa đến tám ngàn quân, tuy ông takhông ý kiến gì nhưng hắn vẫn thấy áy náy, hơn nữa trong Lạc Việt quâncó không ít người vốn là thuộc hạ đắc ý của các tướng lĩnh Tây Sơn, vìtân quân vốn là tập hợp các cá nhân xuất sắc đến từ nhiều doanh khácnhau, nổi lên như một thế lực thân tín của Hoàng Đế trong tương lai, đasố đều nhận định Quang Toản đang sửa soạn cho việc xây dựng trung quân,không thể nghi ngờ, các tướng lĩnh Đại Việt trong tương lai chắc chắn sẽ trưởng thành từ đây, một vị trí thân tín trong đó là điều đáng đượcdành giật, nhưng người của Trần Quang Diệu dường như không có, việc đểTrần Danh Tuấn vào tiểu đoàn 104 cũng vì một phần do nguyên nhân này,cân bằng quyền lực lúc nào cũng đáng được lưu tâm.

 

Riêng kỵ binh sau khi được sát nhập vào tân quân, gọi là tiểu đoàn kỵbinh số 201, tên Vũ Văn Thành gian xảo kia, Quang Toản cũng đào từ LýVăn Bưu ra, bố trí cho đám người mới này xong, hắn vẫn thấy có điều gìchưa ổn lắm, chợt nhớ đến một binh chủng quan trọng không thể thiếutrong thời đại này, Tượng Binh!

 

Để Bùi Thị Xuân gom góp voi chiến và quản tượng ưu tú, Quang Toản chọnlấy 250 con, sắp xếp trên mỗi voi hai giá súng, giao cho tiểu đoàn 104, mỗi voi xếp hai xạ thủ. Vì lượng voi có hạn nên Quang Toản chỉ đủ sắpxếp cho một tiểu đoàn, ba tiểu đoàn còn lại đành phải làm bộ binh hạngnặng bất đắc dĩ. Sau đó cho Lạc Việt Quân bí mật xuất phát thẳng hướngđồn Ninh Hòa, Nguyễn Văn Lộc mang theo pháo binh cùng tiến.

 

Bố trí xong hết thảy ngày 16 tháng 12 năm 1795 (Al) Quang Toản xuất phát cùng thủy binh Nguyễn Văn Tuyết từ cảng Thuận An đến Hòn Lớn sau đótiến đến đồn Ninh Hòa. Tại đây Võ Văn Dũng và Vũ Đình Tú đem gươm rachịu tội, Quang Toản nói.

 

“Tướng dẫn binh sa trường lâu ngày mà phạm vào tội như vậy quả đángchém, Nhưng thắng thua cũng là chuyện bình thường của nhà binh, huốngchi đang trong chiến trận kỵ việc chém soái, tạm thời giữ mạng hai ngươi lại, chờ sau trận chiến lại xử tội cũng không muộn” Quang Toản rạch ròi nói.

 

Sau đó Quang Toản cử thám báo (trinh sát) xuất phát dò đường, phong VõVăn Dũng làm tả quân lĩnh binh sáu ngàn người, để Vũ Đình Tú làm hữuquân lĩnh binh sáu ngàn người, Phạm Văn Điềm làm hậu quân dẫn binh6000, Phan Văn Lân làm tiền quân suất lĩnh 6000 người, Quang Toản trấngiữ trung quân, nhưng cờ hiệu lại lấy danh nghĩa của Nguyễn Văn Lộc, gồm quân cận vệ 500 người, pháo binh và Lạc Việt quân. Bùi Thị Xuân lo việc hậu cần quân bị. Đặng Xuân Bảo và Nguyễn Văn Tuyết đem thủy quân rađóng ở ngoài khơi Cam Ranh nhằm trợ chiến. Trong tả quân, hữu quân, vàtiền quân, có sự xuất hiện của binh chủng mới, lính súng kíp kiểu âu,vừa được gấp rút huấn luyện hơn hai tháng, chiếm gần một nửa quân số.

 

Ngày 24 tháng 12 năm 1795 Quang Toản lệnh Phan Văn Lân suất lĩnh tiềnquân đi trước, hắn dẫn toàn quân đi sau, thẳng hướng thành Diên Khánh.

 

Thành Diêm Khánh chứa bốn vạn quân tinh nhuệ của Gia Định, trên tườngthành có gần ngàn pháo đạn lớn nhỏ, một nửa số đó lấy từ cuộc rút chạycủa Võ Văn Dũng, giữ thành có tả quân Lê Văn Duyệt, Tiền quân Nguyễn Văn Thành làm chỉ huy, tường thành bằng đá cao bốn mét, phía trước thành có hào bảo vệ, lương thực đủ dùng cả năm, là nơi dễ thủ khó công, TrầnQuang Diệu và Võ Văn Dũng từng nếm không ít quả đắng nơi đây. ChínhQuang Toản cũng không lấy gì nắm chắc hạ được thành này, nhưng nếu hạđược nó, đường đến Gia Định không còn quá khó.

 

Dưới chân thành Diên Khánh, Lê Văn Duyệt và Nguyễn Văn Thành cho quândàn trận chờ Quang Toản đến, Phan Văn Lân thấy quân địch đông không dámsơ suất, liền giảm tốc độ hành quân, chờ đại quân phía sau đến.

 

“ Bên địch có bao nhiêu binh quân, bố trí ra sao” Quang Toản hỏi

 

“ Địch quân ba vạn ra ứng chiến với chúng ta, tướng xuất thành là Lê Văn Duyệt, bên cánh phải có năm mươi voi chiến, bộ binh dùng hỏa thương tám ngàn, bên cánh phải có 100 xa pháo, kỵ binh hai ngàn xếp phía sau, cònlại là xếp ở trung quân mâu binh xếp trước, hỏa thương binh xếp sau cùng là cung tiễn thủ hai bạn người, trung quân là nơi mạnh nhất của địch.”Phan Văn Lân báo lại.

 

Quang Toản nghe xong liền méo mặt, hắn quên mất là mình đang ở cuối thếkỷ 18 đầu thế kỷ 19, hai bên dàn quân chờ đánh trận, trận chiến theokiểu thí quân thí tướng, bên nào kiên trì được đến cuối cùng coi nhưthắng, chứ không phải lối đánh đột kích như chiến tranh sau này. Rấtkhông may ở trường quân sự thế giới trước, hắn không được dạy về loạichiến thuật này, với lại do thói quen không muốn đánh đấm theo kiểu giết địch một ngàn bị thương tám trăm nên nhất thời hắn chưa biết phải ralệnh như thế nào cho phải, phải mất một hồi lâu Quang Toản mới ra đượcmệnh lệnh đầu tiên.

 

“ Tả quân bên phải, hữu quân bên trái, Pháo dàn trước trận, bộ binh LạcViệt quân đứng phía sau bảo vệ pháo, Tượng binh đứng trước tả quân, kỵbinh đứng sau hữu quân, tiền quân tiến lên trước mười bước làm nghibinh, hậu quân làm dự bị chia bốn tốp dàn ngang chờ lệnh. Tất cả vào vị trí, chờ lệnh tấn công” Quang Toản ra lệnh lính thông tin tỏa ra đi báo với các nơi.

 

“ Tả quân đợi lệnh, hữu quân đợi lệnh, tiền quân, hậu quân đợi lệnh, Lạc Việt quân đợi lệnh, Pháo quân đợi lệnh!” tất cả các vị trí sau khi sắpxếp liền báo về đã sẵn sàng.

 

“Xa pháo hướng thẳng quân địch bắn liên tục không nghỉ, hữu quân lui vềsau năm mươi bước ra ngoài tầm đạn pháo địch” Quang Toản ra lệnh.

 

“ Bùm.. đùng!”

 

Quang Toản phát hiện ra điểm yếu trong cách bố trí pháo của Lê Văn Duyệt nên ra lệnh hữu quân lùi phía sau, lại lệnh pháo bắn không ngừng nghỉnhằm ép Lê Văn Duyệt tấn công trước. Như vậy Quang Toản sẽ có lợi thếhơn. Với lại hắn cũng không quá rành rẽ về cách điều binh bố trận củaloại hình chiến thuật thời đại này, chỉ đành theo kiểu truyền thống,tiền pháo hậu xung mà ra lệnh.

 

Vì nòng pháo không đủ chuẩn về chất lượng thép, pháo binh vẫn phải dùngthuốc nổ đen để nhồi. Đạn pháo liên tục bắn ra khói đen trở nên mịt mù,Lê Văn Duyệt cũng cho pháo đáp trả nhưng vì hữu quân Phú Xuân đã lui rasau nên không mấy hiệu quả.

 

Pháo của Nguyễn Văn Lộc chi phối cả ba cánh quân của Lê Văn Duyệt liêntục xạ kích vào đội hình mãi không có dấu hiệu dừng lại, thương vongcũng vì đó mà tăng lên, chỉ sau hai khắc (30p) ước chừng đã có năm trămlính Gia Định chết vì pháo kích. Pháo thời đại này vẫn dùng đạn cầu đặc, lúc bắn ra đẩy viên đạn đi thẳng hướng vào trận địa đối phương rồi lănlông lốc vài vòng và nằm im, chẳng có hiện tượng nổ bùm như loại đạn nổsau này, nên đạn bắn thì nhiều, nổ thì to, khói bụi mịt mù nhưng khảnăng sát thương không lớn, chủ yếu vẫn là để hù dọa tin thần binh sĩ đối phương, đạn đặc không nổ, phạm vi sát thương kém nhược, nhưng nếu binhlính trực tiếp trúng đạn chỉ có nước thành thịt nhão, sẽ cảm thấy nhưthế nào khi ngươi bên cạnh vừa đứng xếp hàng với mình nay thành đống máu thịt lẫn lộn, chỉ có binh sỹ trong cuộc mới hiểu, nó làm cho người tarun lẩy bẩy, mất sức chiến đấu như thế nào, khả năng trúng đạn trực tiếp là rất thấp nhưng suốt thời gian pháo kích lúc nào cũng trong trạngthái lo sợ, tinh thần cực độ tiêu hao.

 

“Cứ để đối phương bắn gắt như thế này mà không đáp trả, sẽ ảnh hưởng lớn đến sỹ khí, pháo binh của ta đâu? Cho đáp trả mạnh vào, bắn cho chúngngỏm luôn đi!” Lê Văn Duyệt ra lệnh.

 

“Chúng ta bắn không đến! Xin tướng quân cho pháo đổi hướng tấn công!”

 

“Ngu ngốc! Bây giờ đổi trận địa còn kịp sao? Vô dụng, toàn là đồ bỏ đicả, dặn kỵ binh sẵn sàng đi, tập kích thăm dò cánh trái của chúng”

 

Lê Văn Duyệt trở nên ngày càng sốt ruột. Lệnh cho kỵ binh chuẩn bị tấncông. Thấy kỵ binh đối phương có dị động, Quang Toản lệnh để bộ binh cầm súng kíp xếp thành đội hình ô vuông sẵn, lệnh bộ binh Lạc Việt quânđang ở bên cạnh xa pháo chuyển sang tư thế quỳ bắn, phòng ngừa đốiphương bỏ qua mục tiêu hai cánh mà đánh vào pháo binh.

 

Võ Văn Dũng và Vũ Đình Tú và các tướng lĩnh khác thấy Lạc Việt quân quỳ xuống chĩa súng ra phía trước trông thấy lạ, nhưng không thể rời vị trí nên chẳng thể đến bên Quang Toản để hỏi thăm được, đành kìm nén tò mòmà chờ đợi.

 

“Các ông nói có phải chúng sợ quá mà quỳ xuống không?” một viên quantham tá bên cạnh Lê Văn Duyệt chỉ trỏ mà nói làm cả đám tướng sỹ xungquanh cười sang sảng.

 

“Ha.. ha.. ha.. ha.”

 

Quả nhiên hai ngàn kỵ binh của Lê Văn Duyệt tiến lên ý đồ từ cánh tráiđánh vào, đầu tiên gặp phải pháo kích buộc chúng phải chạy vòng tấn công phía sườn cánh quân phía trái đang lộ ra sơ hở, nào ngờ tại đây có haikhối vuông súng kíp chờ sẵn, súng bắn, lựu đạn được ném ra, gây thiệthại nặng cho toán kỵ binh quân Lê Văn Duyệt, thêm kỵ binh Lạc Việt quânnối đuôi chạy vòng cung phía ngoài, xạ kích vào đám đông kỵ binh đốiphương, rồi lại chạy theo kiểu du kích.

 

“Chúng làm gì kia! Đám đạo tặc Tây Sơn biết dùng trận pháp từ khi nào?”Lê Văn Duyệt nhìn thấy quân Tây Sơn biến đổi trận hình, không nhịn đượcmà thốt lên.

 

“Cái này giống cái như cơ đội Oliver vẫn thường nhắc đến, trận hình vuông” một quan tá trả lời.

 

“Đám Tây Dương ấy cũng biết dùng trận pháp! Sao chưa bao giờ nghe qua?”Lê Văn Duyêt thắc mắc nhưng chỉ nhận được cái lắc đầu từ viên tham tá.

 

“Chỉ là cách sắp xếp đội hình cho lính hỏa thương, chúng như con nhímvậy, không linh động lúc giáp mặt đối địch, nhưng bây giờ đúng là rất có hiệu quả, xem ra chủ tướng địch rất giỏi ứng biến.” Viên tham tá nhậnxét.

 

“Hừ..! Nếu ta có trong tay một đám cung kỵ, liền chẳng sợ bọn nó, cáingữ ấy chỉ cần một đội cung kỵ thôi liền tàn phế, chỉ tiếc kỵ binh củata chỉ dùng được đao, không thiện dùng cung.” Lê Văn Duyệt không hổ làlão tướng sa trường lần đầu đã nhìn ngay ra được ưu nhược điểm của quânPhú Xuân, chỉ hận dù biết cũng không thể phá.

 

“Tướng quân cho quân mang khiêng chắn tiến lên mở đường xông thẳng vào một chỗ liền phá được quân ấy, cần gì đến cung kỵ”

 

“Ta cho quân mang khiêng tiến lên, bọn chúng cũng sẽ xuất binh, trong hỗn chiến, kỵ binh của ta còn có tác dụng rắm nữa sao?”

 

Lê Văn Duyệt nói rất đúng, thử hỏi sức mạnh của kỵ binh nằm ở chỗ nào?Ưu thế là gì? Chính là nằm ở chữ kỵ, dùng đà tiến của ngựa, sức tì đè mà càn lướt đột phá, sự xung phong tốc độ cao của kỵ binh tạo nên tầngtầng lớp lớp từng cơn sống xung kích, như mũi mâu đâm thẳng vào độihình đối thủ, chia cắt quân địch, nói nôm na, kỵ binh như những chiếc xe ủi trên chiến trường, nếu như kỵ binh mất đi ưu thế về càn lướt và quán tính của tốc độ, sa lầy vào hỗn chiến thì coi như xong, khi đó kỵ binhchỉ được xem là bộ binh cưỡi ngựa mà thôi, vướng víu, mất đi ưu thế,đồng nghĩa với việc lộ ra nhược điểm, chiến đấu trong điều kiện như vậysao linh hoạt bằng bộ binh đang đứng bởi chính bàn chân mình trên đất.

 

Bởi vậy, trong chiến tranh lực lượng hỗn chiến bao giờ cũng là bộ binh,kỵ binh thường được dùng trong các việc như, do thám, vu hồi, dẫn dụ,bọc hậu, hộ tống, đột kích mở đường, chủ yếu vẫn dùng vào thời điểm khai chiến và hậu chiến, xây dựng được kỵ binh rất khó, cực hao tốn tiền của và thời gian, chẳng ai dại dội sử dụng chúng để hỗn chiến cả, trừ khigặp phải chủ soái quá ngu ngốc.
 
Bấm nút Bàn phím để chuyển trang. Bấm F11 để bật tắt chế độ xem toàn màn hình Trang trước Trang sau